Cách đây hơn ba mươi năm, trước khi Nguyên Phong viết “Rừng xanh nước bạc”, một cộng đồng bản địa sống gần như biệt lập trên dãy Sierra Nevada de Santa Marta ở Colombia đã chủ động tìm một nhà làm phim người Anh. Họ muốn ông giúp đưa lời cảnh báo của mình đến thế giới bên ngoài.

Năm 1990, bộ phim tài liệu “From the Heart of the World: The Elder Brothers’ Warning” đã đưa câu chuyện của người Kogi đến khán giả quốc tế.

Người Kogi gọi mình là “những người Anh”, còn xã hội công nghiệp bên ngoài là “người Em”. Sierra Nevada de Santa Marta, dãy núi cao sát biển Caribbean nơi họ sinh sống, được họ gọi là “trái tim của thế giới”. Trong cách hiểu của họ, những gì xảy ra với núi, rừng, sông và biển đều liên hệ với nhau.

Điều họ muốn nói với Alan Ereira, nhà làm phim người Anh thực hiện bộ phim, bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể quanh nơi mình sống: băng trên núi rút đi, nguồn nước thay đổi, cây cối chết, lũ lụt và sạt lở xuất hiện. Đó là năm 1990. Ba năm sau, tại Chicago, Nguyên Phong gặp Alan Ereira. Và rồi hơn ba mươi năm sau cuộc gặp ấy, câu chuyện về người Kogi xuất hiện trở lại trong một câu chuyện khác, lần này giữa rừng Amazon của “Rừng xanh nước bạc”.

Những gì người Kogi đã nhìn thấy

Khi điểm cuốn sách “The Elder Brothers” của Alan Ereira trên Los Angeles Times năm 1992, nhà văn Ronald Wright chú ý đến cách Ereira kể câu chuyện này. Ereira không biến người Kogi thành hình ảnh lý tưởng về những con người “nguyên thủy” nắm giữ bí quyết sống hòa hợp với thiên nhiên. Người Kogi hiện ra qua chính những gì họ quan sát, tin tưởng và lo sợ. Khoảng hai mươi năm sau bộ phim đầu tiên, người Kogi lại tìm đến Ereira. Họ cho rằng lời cảnh báo của họ đã không được lắng nghe. Ereira trở lại Sierra Nevada và sau đó thực hiện Aluna, bộ phim tiếp nối câu chuyện cũ. Trong những năm ấy, nỗi lo của người Kogi không biến mất. Băng trên núi tiếp tục tan, rừng bị thu hẹp, hạn hán và lũ lụt xảy ra, hoạt động khai khoáng vẫn được mở rộng quanh vùng Sierra Nevada.

Nguyên Phong không đưa người Kogi vào “Rừng xanh nước bạc” như một câu chuyện có thật. Tác giả chuyển bối cảnh sang Amazon ở Peru và xây dựng nhân vật Mike, một cựu quân nhân Mỹ mắc rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) sau chiến tranh Trung Đông. Theo lời khuyên của chuyên gia trị liệu, Mike trở lại trường đại học. Sau khi tốt nghiệp, anh cùng một nhóm cựu binh nhận công việc bảo vệ cho một công ty đang cạnh tranh dự án thủy lợi giữa rừng Amazon. Máy móc, công trình, hợp đồng và lợi nhuận theo chân những người như Mike vào rừng. Nhưng vùng đất họ bước vào đã có những cộng đồng sống ở đó từ rất lâu, với một cách hiểu khác về nước, cây cỏ và sự tồn tại của khu rừng.

Câu chuyện bắt đầu đổi hướng khi Mike gặp Mapathi, trưởng lão của một bộ lạc sống tách biệt với xã hội hiện đại. Những cuộc trò chuyện giữa hai người lần lượt chạm đến nguồn nước, cây thuốc, bệnh tật, công nghệ và việc con người có thể khai thác một vùng đất đến mức nào. Với Mapathi, khu rừng không phải kho nguyên liệu được chia thành từng đơn vị để tính toán. Một cây bị đốn kéo theo nhiều thứ khác: đất, nguồn nước, thú rừng và đời sống của những người sống quanh đó.

Đọc đến đây, rất khó không nhớ lại điều người Kogi đã nói với Ereira từ năm 1990. Họ cũng nhìn vùng núi mình sống như một hệ thống gắn kết. Một thay đổi ở đầu nguồn có thể đi theo con sông xuống thấp hơn. Một tổn thương ở rừng có thể xuất hiện ở nơi khác dưới một hình thức khác. Trong “Rừng xanh nước bạc”, cách nghĩ ấy được đặt vào lời Mapathi. Ngoài đời, người Kogi đã mang một cách nhìn tương tự ra trước máy quay hơn ba thập niên trước.

Khi khu rừng lên tiếng

“Rừng xanh nước bạc” nhiều lần để thế giới của Mike va vào cách sống của các cộng đồng bản địa. Những người đến Amazon có kỹ thuật, máy móc và khả năng khai thác tài nguyên ở quy mô lớn. Còn những người sống trong rừng lại hiểu từng nguồn nước, loài cây, mùa mưa và những thay đổi rất nhỏ của vùng đất qua kinh nghiệm tích lũy nhiều thế hệ. Nếu chia câu chuyện thành “người hiện đại xấu” và “người bản địa tốt” sẽ khiến mọi thứ đơn giản hơn thực tế rất nhiều.

Nguyên Phong còn đưa câu chuyện đi xa hơn, khi viết về “tần số rung động”, chữa lành và giới hạn của khoa học thực nghiệm. Đây có lẽ cũng là phần dễ khiến độc giả tranh luận nhất trong cuốn sách. Nhưng trước những tranh luận ấy vẫn còn một câu hỏi thực tế hơn: khi một dự án được gọi là phát triển, những gì bị mất đi đã được tính vào đâu? Đây chính là nơi câu chuyện hư cấu của Mapathi gặp lại lời cảnh báo có thật của người Kogi.

Trong “Rừng xanh nước bạc”, công ty của Mike cuối cùng không thắng thầu. Bộ lạc của Mapathi phải rời nơi ở cũ để tìm một vùng đất an toàn hơn. Đó là phần kết của câu chuyện hư cấu. Nhưng ở Sierra Nevada de Santa Marta, câu chuyện chưa có một cái kết như vậy. Người Kogi đã nói lời cảnh báo của họ từ năm 1990. Khoảng hai mươi năm sau, họ gọi Alan Ereira trở lại vì cho rằng thế giới bên ngoài đã không thực sự lắng nghe. Đến năm 2022, khi El País tìm lại câu chuyện này, những vấn đề họ nói từ đầu: nước, rừng, khí hậu và sức ép khai thác lên vùng núi vẫn còn đó.

Khoảng cách hơn ba mươi năm khiến câu chuyện trong “Rừng xanh nước bạc” có một ý nghĩa khác. Mapathi là nhân vật hư cấu. Khu rừng của ông cũng nằm trong tiểu thuyết. Nhưng phía sau nó là câu chuyện về những con người có thật từng bước ra khỏi vùng núi gần như biệt lập của mình để nói với thế giới rằng họ đang nhìn thấy một điều bất thường xảy ra.

Lời cảnh báo ấy đã được đưa ra từ năm 1990. Hơn ba mươi năm sau, điều đáng phải hỏi là thế giới đã làm được gì kể từ khi nghe nó.