Minh Triết Từ Nỗi Bất An

ALAN WATTS Minh triết từ nỗi bất an

ALAN WATTS The Wisdom of Insecurity ông điệp mang đến sự bình an giữa thời đại đầy lo lắng Minh triết từ nỗi bất an NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ Gió Mai dịch

CHƯƠNG 1 THỜI ĐẠI ÂU LO Nhìn từ bề ngoài, cuộc sống của chúng ta dường như chỉ là một khoảnh khắc lóe sáng giữa đêm trường vĩnh cửu. Không chỉ vậy, quãng thời gian hết sức ngắn ngủi đó lại chẳng phải là một ngày đẹp trời quang đãng, bởi vì càng có khả năng cảm nhận được lạc thú, chúng ta càng dễ bị tổn thương, và dù chúng ta có nhận thức được hay không, khổ đau luôn đồng hành cùng chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta đã quen với việc làm cho cuộc hiện sinh này đáng giá khi tin rằng cuộc sống không chỉ là những gì chúng ta đang nhìn thấy – rằng có một tương lai bên ngoài phạm vi đời sống này. Bởi vì với những biểu hiện bên ngoài, cuộc sống dường như chẳng có ý nghĩa. Nếu sống mà chỉ để kết thúc trong hư vô, trong sự khổ đau và bất toàn như thế thì xem ra trải nghiệm này quá tàn nhẫn và vô nghĩa, nhất là đối với những ai sinh ra để tìm kiếm ý nghĩa, để hy vọng, sáng tạo và yêu thương. Là loài có tri giác, con người luôn khao khát tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời, vì vậy chúng ta cảm thấy thật khó tin rằng con người sẽ không tìm thấy ý nghĩa khi họ

10 - ALAN WATTS còn nhìn cuộc sống không chỉ là những gì họ nhìn thấy – tức là có một trật tự, một đời sống vĩnh hằng đằng sau trải nghiệm sống-và-chết, sinh-và-diệt rất đỗi vô thường này. Có lẽ tôi không nên giới thiệu những vấn đề nghiêm túc bằng một ý niệm viển vông như thế, nhưng thách thức của việc tìm ra ý nghĩa cuộc sống từ một mớ trải nghiệm hỗn độn khiến tôi nhớ lại một ước muốn thời thơ ấu của mình là gửi cho ai đó một gói nước qua đường bưu điện. Người nhận sẽ tháo dây buộc, khiến nước đổ ào xuống đùi. Nhưng đây là một trò vui bất khả thi, bởi việc đóng gói một lít nước trong một bưu kiện bằng giấy là hoàn toàn không thể được. Có những loại giấy không bị rã khi ướt, nhưng rắc rối là ở chỗ làm sao để giữ một khối lượng nước trong một hình dạng có thể kiểm soát và buộc dây mà gói bưu kiện không bị bung ra. Càng nghiên cứu để tìm ra các giải pháp khả dĩ cho những vấn đề chính trị, kinh tế, nghệ thuật, triết học và tôn giáo, chúng ta sẽ càng cảm nhận rõ rằng những con người có khả năng thiên phú đang bào mòn trí thông minh của họ bằng một nhiệm vụ bất khả thi và vô nghĩa khi cố đóng gói dòng nước cuộc sống thành những bao, kiện gọn ghẽ và cố định. Có nhiều lý do để giải thích tại sao điều này lại trở nên hết sức hiển nhiên với con người trong thời đại hiện nay. Chúng ta biết quá nhiều về lịch sử, về tất cả những gì chúng ta đã đóng gói và cũng đã bung ra. Chúng ta biết quá chi tiết các vấn đề của cuộc sống đến mức chúng ta không những không quy giản chúng trở lại được nữa, mà chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó đoán định hơn bao giờ hết. Không những thế, khoa học

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 11 và nền công nghiệp còn góp phần làm tăng cả nhịp độ lẫn độ bạo lực của cuộc sống đến mức những gói, kiện của chúng ta dường như ngày càng dễ bị bung ra hơn. Điều này đưa đến cảm giác rằng chúng ta đang sống trong một thời đại của trạng thái bất an khác thường. Trong một thế kỷ qua, đã có quá nhiều truyền thống lâu đời bị phá vỡ – những truyền thống của gia đình và xã hội, của chính phủ, của trật tự kinh tế và của niềm tin tôn giáo. Thời gian trôi qua, dường như những điều chúng ta có thể xem là lẽ phải tuyệt đối, bất biến với thời gian ngày càng ít đi. Đối với một số người, đây là một sự giải phóng đáng mừng khỏi những giới hạn của giáo điều liên quan đến đạo đức, xã hội và tâm linh. Đối với những người khác, đó lại là một sự vi phạm lẽ phải và lý trí đầy rủi ro và đáng sợ. Nhưng với phần đông con người, có lẽ sự giải phóng khá đột ngột này mang lại cảm giác phấn khích ngắn ngủi, để rồi sau đó là nỗi bất an sâu sắc. Bởi nếu mọi thứ chỉ là tương đối, nếu cuộc sống là một dòng chảy liên tục không có khuôn dạng hay mục đích, và không có gì không thay đổi ngoài sự thay đổi, thì dường như điều này có nghĩa là chúng ta chẳng có “tương lai”, và do vậy cũng chẳng có hy vọng. Con người hạnh phúc chừng nào họ còn có một tương lai để hướng đến – dù tương lai đó là một ngày mai xán lạn hay một đời sống vĩnh cửu ở bên kia nấm mồ. Vì nhiều lý do khác nhau, ngày càng ít người tin vào sự sống sau cái chết. Trong khi đó, cái cảnh “ngày mai xán lạn” cũng không mấy thuyết phục, bởi lẽ, khi ngày đó đến, chúng ta cũng khó mà vui hưởng nó

12 - ALAN WATTS trọn vẹn nếu không được hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp khác sẽ đến tiếp theo sau. Nếu hạnh phúc luôn phụ thuộc vào điều gì đó được kỳ vọng ở tương lai thì chúng ta chỉ đang đuổi theo những đốm lửa ma trơi mãi mãi ở ngoài tầm với, cho đến khi tương lai, và cả chúng ta, tan biến trong vực thẳm của cái chết. Thật ra, thời đại của chúng ta cũng không bất an hơn bất cứ thời đại nào khác. Đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, những đổi thay và cái chết đều không phải là điều mới mẻ. Trong những giai đoạn an ổn nhất, ý niệm “an toàn” cũng không thể vượt ra khỏi tính chất nhất thời và cảm nhận của giác quan. Nhưng người ta đã khiến cho nỗi bất an trở nên dễ chịu hơn nhờ niềm tin vào những điều bất biến mà mọi tai ương đều không thể chạm đến – niềm tin vào Thượng đế, vào linh hồn bất diệt của con người, và vào những quy luật vĩnh hằng mà theo đó vũ trụ vận hành. Ngày nay, những xác tín này đã trở nên hiếm hoi, kể cả trong các cộng đồng tôn giáo. Chẳng có tầng lớp xã hội nào, kể cả một số ít cá nhân thừa hưởng nền giáo dục hiện đại, lại không biểu hiện ít nhiều sự hoài nghi. Hiển nhiên là trong suốt thế kỷ qua, vị trí thống lĩnh của tôn giáo trong tâm trí đại chúng đã bị khoa học thế chỗ, và chủ nghĩa hoài nghi, ít nhất là trong khía cạnh tâm linh, đã trở nên phổ biến hơn các đức tin. Tình trạng suy hoại niềm tin bắt đầu từ sự hoài nghi chân thật, từ quá trình tư duy cẩn trọng và không nao núng của những con người thông tuệ trong giới khoa học và triết học. Những người này – được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành và sự xem trọng vai trò của các dữ kiện – tập trung quan sát, tìm cách

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 13 thấu hiểu và đối diện cuộc sống đúng với bản chất của nó bằng tư duy đơn thuần, không vọng tưởng. Tuy nhiên, đổi lại tất cả những việc họ đã làm nhằm cải thiện điều kiện sống, bức tranh về vũ trụ của họ dường như không để lại cho cá nhân niềm hy vọng sau cùng. Cái giá phải trả cho những điều phi thường mà họ mang đến thế giới này là sự biến mất của thế giới vị lai, khiến con người lại có xu hướng tìm về câu hỏi ban xưa: “Vậy con người có được lợi ích gì nếu có được cả thế giới mà lại để mất đi linh hồn của mình?”. Tư duy logic, trí năng và nhận thức lý tính được thỏa mãn, nhưng trái tim thì đói khát. Bởi trái tim đã quen cảm nhận rằng chúng ta sống vì tương lai. Một cách chậm rãi và không chắc chắn, khoa học có thể mang lại cho chúng ta một tương lai xán lạn – trong vài năm. Và sau đó, giai đoạn này cũng sẽ kết thúc, với mỗi chúng ta. Mọi giai đoạn đều sẽ kết thúc. Dù có thể trì hoãn bao lâu, mọi thứ được hợp thành đều sẽ tan rã. Dù có vài ý kiến trái chiều, đây vẫn là quan điểm chung của khoa học. Giới văn chương và tôn giáo ngày nay thường đưa ra giả định rằng xung đột giữa khoa học và niềm tin tâm linh đã là chuyện quá khứ. Thậm chí, một số nhà khoa học hơi mơ mộng còn cho rằng khi vật lý hiện đại bãi bỏ chủ nghĩa duy vật nguyên tử luận thô thiển, những lý do chính dẫn đến xung đột này sẽ được loại bỏ. Nhưng đây hoàn toàn không phải là vấn đề. Tại hầu hết các trung tâm học thuật lớn, những ai nghiên cứu khoa học và các phương pháp khoa học một cách toàn diện sẽ ngày càng xa rời những gì mà họ hiểu là quan điểm của tôn giáo.

14 - ALAN WATTS Vật lý hạt nhân và thuyết tương đối đúng là đã bác bỏ được thuyết duy vật cũ, nhưng giờ đây chúng trao cho ta một vũ trụ quan thậm chí còn có ít không gian hơn cho bất kỳ ý tưởng nào về một ý nghĩa sống hay trật tự tuyệt đối. Nhà khoa học hiện đại không ngây thơ đến mức bác bỏ Thượng đế vì ông ta không thấy được Người bằng kính thiên văn. Ông ta cũng không phủ nhận được sự tồn tại của linh hồn vì không tìm thấy linh hồn bằng dao mổ. Ông ta chỉ ghi chú rằng ý niệm về Thượng đế là không cần thiết về mặt logic. Thậm chí ông ta còn nghi ngờ liệu việc đưa ra ý niệm về Thượng đế có bất kỳ ý nghĩa gì không, bởi nó không giúp ông lý giải những điều mà ông không thể lý giải bằng những cách thức khác đơn giản hơn. Ông ấy biện luận rằng việc nói mọi chuyện đều xảy ra theo sự vận hành và kiểm soát của Thượng đế cũng giống như chưa nói gì. Nói như vậy chẳng khác nào nói “Mọi chuyện đều do ý trời”, tức là chẳng có ý nghĩa gì cả. Quan điểm này không giúp chúng ta đưa ra bất cứ giả thuyết có thể kiểm chứng nào. Và vì vậy, từ góc nhìn khoa học, nó không có giá trị. Các nhà khoa học có thể đúng về phương diện này, và họ cũng có thể sai. Nhưng mục đích của chúng ta ở đây không phải là để tranh luận về điều này. Chúng ta chỉ cần lưu ý rằng sự hoài nghi này có ảnh hưởng rất lớn. Nó thiết lập tâm thế chủ yếu của cả một thời đại. Tóm lại, khoa học đã đưa ra quan điểm như sau: chúng ta không biết, và cũng không có cơ sở nào để biết, liệu Thượng đế có tồn tại hay không. Không điều gì trong những điều chúng ta đã biết gợi ý cho chúng ta về sự tồn tại của Người,

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 15 và tất cả những lập luận chứng minh sự tồn tại của Người đều không có ý nghĩa về mặt logic. Thật ra, cũng không có lý thuyết nào chứng minh Thượng đế không tồn tại, nhưng gánh nặng tìm chứng cứ lại đang ở trên vai những người ủng hộ ý niệm về Thượng đế. Nhà khoa học có thể nói rằng nếu tin vào Thượng đế, bạn chỉ có thể tin Người dựa trên cảm xúc thuần túy mà không có cơ sở logic hay dữ kiện. Thẳng thắn mà nói, điều này rất giống với chủ nghĩa vô thần. Về mặt lý thuyết, đây chính là thuyết bất khả tri1. Bởi vì bản chất của tính trung thực khoa học là anh không giả vờ biết điều mình không biết, còn bản chất của phương pháp khoa học là anh không sử dụng những giả thuyết không thể kiểm chứng được. Kết quả tức thời mà tinh thần trung thực này mang lại là nỗi bất an và buồn bã sâu sắc. Bởi vì con người dường như không thể sống thiếu những chuyện hoang đường, không thể sống thiếu niềm tin rằng mọi sự cực nhọc và buồn tẻ, mọi nỗi đau và nỗi sợ của đời sống hiện tại đều có ý nghĩa và mục đích nào đó trong tương lai. Những chuyện hoang đường mới liên tục xuất hiện – những câu chuyện chính trị và kinh tế với những lời hứa hẹn được phóng đại về một viễn cảnh tương lai chưa bao giờ tốt đẹp hơn trong thế giới hiện đại. Những câu chuyện hoang đường này trao cho từng cá nhân một cảm thức nào đó về ý nghĩa cuộc sống khi họ trở thành một phần của một xã hội rộng lớn đang nỗ lực, và trong tâm thế đó, họ quên đi nỗi cô đơn và trống rỗng của riêng mình. Tuy nhiên, 1 Thuyết bất khả tri là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định – đặc biệt là các tuyên bố thần học về bất cứ sự hiện hữu nào ở bên ngoài những gì con người có thể trải nghiệm được – là chưa biết và không thể biết được.

16 - ALAN WATTS chính những xung đột mang màu sắc chính trị của tôn giáo lại làm lộ ra nỗi lo âu ở sâu bên trong họ – bởi vì các tôn giáo chẳng qua chỉ là những nhóm người túm tụm lại với nhau trong đêm tối và hô hào không ngừng để tìm cho mình một chút dũng khí vượt qua nỗi sợ. Một khi sự hoài nghi về tính hoang đường của một tôn giáo xuất hiện, quyền năng của tôn giáo đó lập tức biến mất. Con người có thể cần có một niềm tin huyền bí nào đó, nhưng không thể tự pha chế cho mình một đức tin như pha chế một viên thuốc nhức đầu được. Một niềm tin huyền bí chỉ “hiệu quả” khi chúng ta tin nó có thật, và một khi đã tự ý thức, con người không thể “phỉnh gạt” chính mình lâu. Kể cả những nhà biện giải tôn giáo xuất sắc ngày nay dường như cũng không chú ý tới thực tế này. Những lập luận hùng hồn nhất của họ cho việc quay lại một niềm tin chính thống nào đó đều nhằm chỉ ra những lợi ích về phương diện xã hội và đạo đức của việc tin vào Thượng đế. Nhưng điều này không chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế. Cùng lắm, họ chỉ chứng minh sự hữu ích của niềm tin vào Người mà thôi. “Nếu Thượng đế không tồn tại, thì việc sáng tạo ra Người là cần thiết”. Có lẽ đúng như vậy. Nhưng nếu công chúng có bất cứ sự hoài nghi nào về sự hiện hữu của Người, phát minh này sẽ trở nên vô hiệu. Chính vì nguyên nhân này, sự trở lại với tôn giáo chính thống trong một số cộng đồng trí thức hiện nay đa phần không có thực chất. Nó là niềm tin vào niềm tin hơn là niềm tin vào Thượng đế thật sự. Sự tương phản giữa một người trí thức

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 17 “hiện đại” luôn bất an, thần kinh bất ổn và một tín đồ “theo sau thời đại” nhưng có phẩm cách khiêm cung và luôn có sự bình an nội tại khiến cho hình tượng tín đồ trở nên đáng thèm muốn hơn cả. Nhưng nếu xem sức khỏe thần kinh của một người là một thước đo chân lý và lập luận rằng nếu nhân sinh quan của một người khiến thần kinh của anh ta bất ổn thì nhân sinh quan của người đó không đúng, thì chúng ta đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong ứng dụng tâm lý học. “Hầu hết những người vô thần và theo thuyết bất khả tri đều có tâm thần bất ổn, trong khi phần lớn tín đồ Công giáo đều hạnh phúc và tự tại. Như vậy, triết lý sống của người vô thần là sai, và triết lý sống của tín đồ Công giáo là đúng.” Kể cả khi kết quả quan sát cho thấy điều này đúng đi chăng nữa thì lập luận dựa trên quan sát cũng là một việc ngớ ngẩn. Lập luận như vậy cũng giống như nói rằng “Anh nói có đám cháy ở tầng hầm. Việc này khiến anh buồn lòng. Và vì anh phiền lòng nên tất nhiên là không có đám cháy”. Cho dù những người theo thuyết bất khả tri và vô thần có thần kinh bất ổn đi nữa nhưng điều này không có nghĩa là triết thuyết của họ sai trái. Nó chỉ hàm ý rằng họ đã khám phá ra “sự thật” nhưng không biết làm thế nào để thích nghi với những “sự thật” đó. Người có tri thức cố gắng thoát khỏi tình trạng khổ não bằng cách trốn tránh sự thật tức là anh ta đang sống theo nguyên tắc “Ở nơi hạnh phúc vô minh, biết nhiều chi khổ thân mình mà thôi”1. Khi niềm tin vào sự thường hằng trở nên bất khả thi và giải pháp thay thế chắp vá duy nhất là tin vào niềm tin, con người 1 Where ignorance is bliss, ‘tis folly to be wise: trích từ bài thơ “Ode on a Distant Prospect of Eton College” (1742) của nhà thơ Thomas Gray (1716-1771).

18 - ALAN WATTS tìm kiếm hạnh phúc trong những niềm vui vô thường. Dù cố gắng chôn vùi khao khát về sự thường hằng ở tận những tầng sâu của tâm trí, họ vẫn ý thức được rõ rằng những niềm vui thú kia vừa không chắc chắn vừa ngắn ngủi. Điều này dẫn đến hai hệ quả. Một mặt, có một nỗi lo âu thường trực rằng bản thân đang bỏ lỡ điều gì đó, khiến tâm trí tham lam cứ chộn rộn, căng thẳng không yên, thử hết lạc thú này đến lạc thú khác mà chẳng tìm thấy được niềm thư thái và cũng không thấy đủ đầy. Mặt khác, nỗi thất vọng vì cứ phải đuổi theo một tương lai tốt đẹp ở một ngày mai chẳng bao giờ đến, trong một thế giới không có thứ gì trường tồn, đã nuôi dưỡng trong con người một thái độ: “Rốt cuộc, sống có ích gì?”. Kết quả là thời đại chúng ta đang sống trở thành thời đại của nỗi thất vọng, lo âu, của trạng thái kích động và nghiện các kiểu “chất kích thích”. Chúng ta phải bằng mọi cách giành lấy, nắm bắt tất cả mọi thứ khi còn có thể và gạt đi ý niệm rằng đời sống như vậy thật phù phiếm và vô nghĩa. Thứ “chất kích thích” này, mà chúng ta gọi là cuộc sống chất lượng cao, tác động một cách mạnh bạo và không đơn giản vào các giác quan, khiến chúng ngày càng kém tinh nhạy và vì thế lại càng cần mức độ kích thích mạnh bạo hơn nữa. Chúng ta thèm khát những thứ làm chúng ta xao lãng – một sự phối hợp càng nhiều càng tốt những hình ảnh, âm thanh, những thứ gây phấn khích và kích động giác quan nhiều nhất có thể trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Để duy trì “đời sống chất lượng cao” này, hầu hết chúng ta sẵn sàng chịu đựng một cuộc sống mà phần lớn thời gian,

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 19 chúng ta làm một công việc nhàm chán để kiếm sống, rồi lại tìm kiếm những cách thức để giải thoát khỏi đời sống tẻ nhạt ấy bằng những thú vui cuồng nhiệt, ồn ào và tốn kém. Chúng ta coi những khoảng thời gian xen giữa này là sống thật sự, là mục đích thật sự của đời sống mà vì nó chúng ta phải làm công việc “tệ hại” kia. Hoặc chúng ta tưởng tượng ra một lý do “chính đáng” để biện minh cho việc mình phải làm công việc đó, là để kiếm tiền nuôi gia đình, để mỗi người trong gia đình lại tiếp nối nhau làm điều tương tự – nuôi gia đình riêng của mỗi người... và cuộc sống như vậy cứ tiếp diễn... Đây không phải một bức tranh biếm họa, mà là hiện thực cuộc sống được đơn giản hóa của hàng triệu người. Nó phổ biến đến nỗi chúng ta hầu như chẳng cần phải mô tả chi tiết, chẳng cần phải ghi nhận nỗi thất vọng và lo âu của những người sống với tâm thế chịu đựng, không biết làm cách nào khác. Vậy chúng ta cần làm gì? Có vẻ như có hai giải pháp thay thế. Cách thứ nhất là, bằng cách này hay cách khác, chúng ta khám phá một câu chuyện hoang đường mới, hoặc phục hưng một niềm tin cũ. Nếu khoa học không thể chứng minh rằng Thượng đế không tồn tại, chúng ta có thể cố gắng sống và hành xử dựa trên cơ may ít ỏi rằng Người có thể tồn tại. Xem ra chúng ta chẳng mất gì trong canh bạc này, bởi nếu chết là hết thì chúng ta sẽ không bao giờ biết mình đã để mất điều gì. Nhưng rõ ràng là lựa chọn này sẽ không bao giờ đưa chúng ta đến một niềm tin cốt yếu, bởi nó sẽ giống như câu nói: “Vì dù sao đi nữa, đời sống này cũng phù phiếm nên chúng ta hãy giả vờ như không phải vậy”. Cách thứ hai là đành phải đối mặt với

20 - ALAN WATTS sự thật rằng cuộc sống chỉ là “một câu chuyện được kể bởi một tên ngốc”1, và thụ hưởng nó tốt nhất có thể, để khoa học và công nghệ phục vụ chúng ta một cách tối ưu trong hành trình từ hư vô đến hư vô. Nhưng đó không phải là những giải pháp duy nhất. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách mặc nhiên chấp nhận quan điểm bất khả tri của khoa học phản biện. Chúng ta có thể thành thật thừa nhận rằng chúng ta không có nền tảng khoa học nào để tin vào Thượng đế, vào sự bất tử của linh hồn hay bất cứ điều tuyệt đối nào. Chúng ta có thể kiềm chế thôi thúc tin vào điều gì đó, tiếp nhận cuộc sống như những gì đang diễn ra, không hơn. Từ xuất phát điểm này, chúng ta vẫn còn có một cách sống khác nữa, một lối sống không cần những niềm tin hoang đường hay nỗi tuyệt vọng. Nhưng nó đòi hỏi một cuộc cách mạng triệt để trong cách chúng ta tư duy và cảm nhận thường ngày. Điều phi thường ở cuộc cách mạng này là nó làm hé lộ sự thật đằng sau cái gọi là những câu chuyện hoang đường của tôn giáo truyền thống và siêu hình học. Sự thật được hé lộ không phải là những niềm tin, mà là thực tại hiện tiền tương thích một cách không ngờ với những ý niệm về Thượng đế và đời sống vĩnh hằng. Có những lý do để cho rằng một cuộc cách mạng như vậy là khởi nguyên của một số tư tưởng tôn giáo chính, trong một mối tương quan giống như mối tương quan giữa thực tại và biểu tượng, giữa nguyên nhân và kết quả. Sai lầm phổ biến của việc thực hành tôn giáo thông thường là 1 Đây là một lời thoại trong vở kịch “Macbeth” của William Shakespeare, là lời oán thán của Macbeth khi bi kịch tồi tệ xảy ra với cuộc đời ông. Nguyên văn câu thoại (tạm dịch) như sau: “Cuộc đời là một câu chuyện được kể bởi một tên ngốc, đầy âm thanh và sự cuồng nộ, chẳng có ý nghĩa gì”.

MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN - 21 nhầm lẫn biểu tượng với thực tại, nhìn vào ngón tay chỉ mặt trăng và sau đó bám dính lấy ngón tay vì sự tiện lợi thay vì đi theo con đường mà ngón tay đã chỉ. Tư tưởng tôn giáo cũng giống như ngôn từ – đôi khi không hữu dụng và thường gây sai lạc, trừ khi bạn nhận biết được thực tại cụ thể mà khái niệm hay ngôn từ đó ám chỉ. Từ “nước” chỉ là một phương tiện giao tiếp hữu ích giữa những người biết về nước mà thôi. Điều này cũng đúng đối với từ và ý niệm “Thượng đế”. Ở điểm này, tôi không muốn làm ra vẻ bí ẩn hay tỏ ra mình biết kiến thức huyền bí gì cả. Thực tại tương thích với Thượng đế và đời sống vĩnh hằng là thực tại chân như, mộc mạc, giản đơn, và mở ra cho tất cả những ai muốn thấy. Nhưng khả năng nhìn thấy này đòi hỏi một tâm trí phù hợp, cũng giống như để nhìn rõ, chúng ta cần một đôi mắt tinh anh. Niềm tin, dù là niềm tin vào Thượng đế hay vào thuyết vô thần, chỉ cản trở chứ không hỗ trợ quá trình khám phá thực tại này. Ở đây chúng ta cần phân biệt rõ giữa niềm tin và đức tin, bởi vì niềm tin thông thường hàm chỉ một trạng thái tâm trí gần như đối lập với đức tin. Từ “niềm tin” mà tôi dùng ở đây là sự xác quyết rằng sự thật là điều mà người có niềm tin đó “nguyện cầu” hay ước nó trở thành sự thật. Người có niềm tin vào điều họ cho là sự thật sẽ cho phép tâm trí mở ra với sự thật đó, miễn là điều họ tin trùng khớp với ý niệm và ước muốn sẵn có bên trong họ. Trong khi đó, đức tin là một trạng thái tâm trí mở hoàn toàn để đón nhận sự thật, dù sự thật đó có như thế nào đi nữa. Đức tin không có những ý niệm sẵn có trong đầu; nó lao vào những điều chưa biết. Niềm tin có sự bám giữ nhưng đức tin thì buông xả hoàn toàn. Theo ngữ nghĩa này,

Mục lục Lời mở đầu 5 Chương 1 - THỜI ĐẠI ÂU LO 9 Chương 2 - NỖI ĐAU VÀ THỜI GIAN 27 Chương 3 - DÒNG CHẢY LỚN 37 Chương 4 - SỰ THÔNG TUỆ CỦA CƠ THỂ 53 Chương 5 - VỀ SỰ NHẬN BIẾT 73 Chương 6 - KHOẢNH KHẮC DIỆU KỲ 87 Chương 7 - CHUYỂN HÓA SỰ SỐNG 105 Chương 8 - LUÂN LÝ SÁNG TẠO 119 Chương 9 - NHÌN NHẬN LẠI TÔN GIÁO 135 PHỤ LỤC 155 Bản năng, trí thông minh và nỗi bất an 157 Thiền và vấn đề kiểm soát 173 Tâm linh và cảm giác 188

RkJQdWJsaXNoZXIy MjI4NTM1Ng==